09/01/2026 lúc 11:24

Hơn 3.000 km cao tốc: Từ cơ chế đặc thù đến xung lực phát triển mới

Việc hoàn thành và đưa vào khai thác hơn 3.000 km đường bộ cao tốc trong giai đoạn 2021–2025 không chỉ là dấu mốc hạ tầng, mở ra không gian phát triển kinh tế – xã hội.

Gỡ “điểm nghẽn” thể chế để tăng tốc đầu tư hạ tầng

Cao tốc - 60s Hôm Nay
Hơn 3.000 km cao tốc: Từ cơ chế đặc thù đến xung lực phát triển mới. Ảnh: Vietnamfinance

Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại được xác định là một trong ba đột phá chiến lược của Đại hội XIII. Trong đó, hạ tầng giao thông, đặc biệt là đường bộ cao tốc, được ưu tiên đầu tư nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn và kết nối vùng.

Trước năm 2020, Việt Nam mới có 1.163 km đường cao tốc. Để đạt mục tiêu khoảng 3.000 km vào cuối năm 2025, khối lượng công việc đặt ra là rất lớn, trong bối cảnh hàng loạt khó khăn tồn tại như thủ tục đầu tư kéo dài, vướng mắc giải phóng mặt bằng, thiếu hụt vật liệu và biến động giá.

Để tháo gỡ, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, mang tính đột phá. Trong đó nổi bật là việc phân cấp mạnh cho địa phương làm cơ quan chủ quản các dự án thành phần, cho phép chỉ định thầu trong một số trường hợp, giao mỏ vật liệu trực tiếp cho nhà thầu và cho phép nâng công suất khai thác.

Cách làm này giúp rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị đầu tư, tạo sự chủ động trong tổ chức thực hiện và xử lý kịp thời các vướng mắc phát sinh tại hiện trường. Đặc biệt, cơ chế “vừa làm vừa hoàn thiện” thể chế đã giúp nhiều dự án trọng điểm như cao tốc Bắc – Nam phía Đông đạt và vượt tiến độ.

Dấu mốc lịch sử của mạng lưới cao tốc Việt Nam

Cao tốc - 60s Hôm Nay
Hơn 3.000 km cao tốc: Từ cơ chế đặc thù đến xung lực phát triển mới. Ảnh: Báo Xây dựng

Sau 5 năm triển khai quyết liệt, đến hết năm 2025, cả nước đã hoàn thành và thông xe khoảng 3.188 km tuyến chính đường bộ cao tốc, và hơn 3.500 km nếu tính cả nút giao và đường kết nối. Riêng trong năm 2025, có hơn 1.100 km được hoàn thành hoặc thông xe kỹ thuật.

Đáng chú ý, trục cao tốc Bắc – Nam đã cơ bản nối thông từ Cao Bằng đến Cà Mau, hiện thực hóa mục tiêu lớn được nêu trong Nghị quyết Đại hội XIII. Đây là giai đoạn phát triển nhanh nhất trong lịch sử ngành giao thông vận tải Việt Nam, cả về quy mô đầu tư, tốc độ thi công lẫn hiệu quả khai thác.

Hệ thống cao tốc không còn tập trung ở một vài vùng kinh tế trọng điểm, mà đã mở rộng mạnh về phía Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long – khu vực từng được xem là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, từ chỗ chỉ có khoảng 40 km cao tốc trước năm 2020, đến nay đã hình thành mạng lưới hơn 260 km, giúp rút ngắn thời gian vận chuyển nông sản, giảm áp lực cho các tuyến quốc lộ và tăng khả năng kết nối với cảng biển, sân bay.

Cao tốc mở không gian phát triển và liên kết vùng

Cao tốc - 60s Hôm Nay
Hơn 3.000 km cao tốc: Từ cơ chế đặc thù đến xung lực phát triển mới. Ảnh: Vietnamplus

Hiệu quả của các tuyến cao tốc thể hiện rõ ở sự thay đổi dòng chảy kinh tế và không gian phát triển. Thời gian di chuyển giữa các trung tâm kinh tế lớn được rút ngắn, chi phí logistics giảm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất và phân phối.

Các hành lang kinh tế như Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh hay TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây – Cái Mép – Thị Vải đã hình thành trục liên kết cảng biển – sân bay – khu công nghiệp, thúc đẩy mạnh mẽ logistics, du lịch và công nghiệp chế biến.

Nhiều địa phương có cao tốc đi qua ghi nhận tốc độ tăng trưởng GRDP cao hơn mức bình quân cả nước. Không gian phát triển được mở rộng ra khỏi các đô thị lõi, tạo điều kiện hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị vệ tinh và trung tâm dịch vụ mới tại các nút giao chiến lược.

Bên cạnh tác động kinh tế, cao tốc còn góp phần tăng cường liên kết vùng, giảm chênh lệch phát triển và nâng cao năng lực đảm bảo quốc phòng – an ninh, đặc biệt tại các khu vực biên giới và ven biển.

Từ hạ tầng giao thông đến xung lực tăng trưởng dài hạn

Theo các chuyên gia kinh tế, đầu tư hạ tầng giao thông, đặc biệt là đường bộ cao tốc, không chỉ tạo tác động tức thì thông qua mở rộng tổng cầu, mà còn mang lại giá trị gia tăng lớn trong trung và dài hạn.

Khi thời gian vận chuyển được rút ngắn, doanh nghiệp có điều kiện tối ưu chuỗi cung ứng, tăng tốc độ quay vòng vốn và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là yếu tố then chốt với các ngành xuất khẩu, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến và thương mại điện tử.

Quan trọng hơn, mạng lưới cao tốc liên thông đóng vai trò như công cụ tái cấu trúc không gian kinh tế. Dòng vốn, lao động và công nghệ có xu hướng dịch chuyển mạnh hơn về các địa phương có hạ tầng tốt, quỹ đất lớn và chi phí thấp hơn, góp phần giảm áp lực cho các đô thị lớn.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, đầu tư công vào hạ tầng giao thông tiếp tục là trụ cột ổn định tăng trưởng, củng cố niềm tin thị trường và tạo nền tảng cho các cải cách sâu hơn về thể chế, mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo.

Thùy Linh

Các tin tức liên quan đến Đầu tư